Các thông điệp chính:
- Tỷ lệ người trưởng thành mắc đồng thời mất ngủ và ngưng thở khi ngủ (COMISA) bị tăng huyết áp không kiểm soát cao hơn so với những người chỉ mắc một trong hai bệnh hoặc không mắc bệnh nào.
- COMISA có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng tăng huyết áp khó kiểm soát.
- Nghiên cứu ủng hộ việc cá thể hóa chiến lược điều trị và đánh giá sức khỏe giấc ngủ đa chiều để giảm thiểu gánh nặng tim mạch.
Theo kết quả nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Annals of the American Thoracic Society, những người trưởng thành ở độ tuổi trung niên mắc hội chứng mất ngủ đồng mắc với ngưng thở khi ngủ (COMISA) đối mặt với nguy cơ tăng huyết áp không kiểm soát cao hơn đáng kể so với những người không mắc các tình trạng này.
Bác sĩ Mio Kobayashi Frisk, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Gothenburg và là bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Đại học Sahlgrenska, cùng các cộng sự cho biết: “Những phát hiện này cung cấp cái nhìn mới để xác định các nhóm bệnh nhân ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) có nguy cơ gặp các biến cố tim mạch bất lợi.”
Dữ liệu được trích xuất từ nghiên cứu của Frisk MK và cộng sự (Ann Am Thorac Soc. 2025). Nhóm tác giả nhấn mạnh: “Kết quả của chúng tôi đề cao tầm quan trọng của việc nhìn nhận sức khỏe giấc ngủ như một cấu trúc đa chiều và ủng hộ các chiến lược điều trị cá thể hóa để chống lại gánh nặng của rối loạn giấc ngủ phổ biến này.”
Chi tiết nghiên cứu
Trong một phân tích cắt ngang, Frisk và các cộng sự đã đánh giá 3.832 người trưởng thành trong độ tuổi từ 50 đến 64 (độ tuổi trung bình là 57,5; 54,2% là nữ giới; chỉ số khối cơ thể [BMI] trung bình là 26,6 kg/m²) từ đoàn hệ Gothenburg thuộc Nghiên cứu Hình ảnh Sinh học Tim phổi Thụy Điển (SCAPIS). Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tác động của tình trạng mất ngủ đồng mắc với ngưng thở khi ngủ (COMISA) đối với tỷ lệ mắc tăng huyết áp không kiểm soát.
Theo nghiên cứu, các đối tượng được xác định mắc COMISA khi có đồng thời:
- Chỉ số ngưng thở – giảm thở (AHI) > 10 lần/giờ.
- Chỉ số mức độ nghiêm trọng của mất ngủ (ISI) từ 15 điểm trở lên.
Ngoài ra, tình trạng tăng huyết áp không kiểm soát được xác định khi bệnh nhân có huyết áp tâm thu đo tại phòng khám ≥ 140 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg.
Trong quần thể nghiên cứu này, có 118 người (chiếm 3,1%; trong đó 42,4% là nữ) mắc COMISA; 694 người (18,1%; 34% là nữ) chỉ mắc OSA; 404 người (10,5%; 69,3% là nữ) chỉ mắc mất ngủ đơn thuần và 2.616 người (57,7% là nữ) thuộc nhóm đối chứng.
Kết quả nổi bật
Các nhà nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về chỉ số AHI hoặc chỉ số giảm bão hòa oxy (ODI) khi so sánh giữa nhóm chỉ mắc OSA và nhóm COMISA. Tuy nhiên, khi đánh giá thời gian bão hòa oxy dưới 90% (T90), nhóm COMISA có giá trị cao hơn đáng kể (5,2% thời gian so với 3,3% ở nhóm chỉ mắc OSA; P = 0.01).
Trong số các nhóm được nghiên cứu, nhóm COMISA có tỷ lệ người trưởng thành bị tăng huyết áp không kiểm soát cao nhất (10,2%), tiếp theo là nhóm chỉ mắc OSA (7,9%), nhóm chỉ mắc mất ngủ (4,5%) và cuối cùng là nhóm đối chứng (4,4%).
Nhóm tác giả Frisk và cộng sự ghi nhận: “Tỷ lệ tăng huyết áp (bao gồm cả thể đã kiểm soát và chưa kiểm soát) gia tăng tương ứng với mức độ phức tạp của bệnh lý: thấp nhất ở nhóm đối chứng, tăng dần qua nhóm mất ngủ đơn thuần, nhóm OSA đơn thuần và đạt đỉnh ở nhóm COMISA.”
Sau khi hiệu chỉnh đa yếu tố (bao gồm nhân trắc học, lối sống, các bệnh đồng mắc, thang đo buồn ngủ Epworth và chỉ số T90), các nhà nghiên cứu quan sát thấy nguy cơ tăng huyết áp không kiểm soát ở nhóm COMISA cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (OR = 1.88; 95% CI, 1.23-2.89; P = 0.004).
Những người trưởng thành chỉ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) cũng có nguy cơ bị tăng huyết áp không kiểm soát cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (OR = 1.31; 95% CI, 1.05-1.64; P = 0.02)
Trong các phân tích biến trung gian, nhóm nghiên cứu đã tập trung đánh giá chỉ số T90 (thời gian bão hòa oxy máu dưới 90%). Kết quả ghi nhận “thông số này là một yếu tố trung gian có ý nghĩa thống kê trong mối liên hệ giữa cả OSA và COMISA đối với tình trạng tăng huyết áp không kiểm soát.”
Khi thay thế tiêu chí mất ngủ bằng tình trạng buồn ngủ quá mức ban ngày (EDS), nhóm kết hợp giữa OSA và EDS có tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát cao nhất (9,3%), kế đến là nhóm chỉ mắc OSA (8%), nhóm chỉ có biểu hiện EDS (5,4%) và thấp nhất là nhóm đối chứng (4,2%).
Sử dụng mô hình hồi quy logistic thứ bậc đã hiệu chỉnh, các nhà nghiên cứu quan sát thấy nguy cơ tăng huyết áp không kiểm soát tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nhóm chỉ mắc OSA so với nhóm đối chứng (OR = 1,41; 95% CI; 1.13 – 1.78; P = 0,003). Tuy nhiên, mối liên quan này không đạt ý nghĩa thống kê ở nhóm kết hợp OSA và buồn ngủ quá mức ban ngày.
Nhóm tác giả Frisk lưu ý: “Do bản chất của thiết kế nghiên cứu cắt ngang, chúng tôi chưa thể đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả. Các nghiên cứu dọc nhằm đánh giá sự hình thành và tiến triển của OSA, mất ngủ cũng như tăng huyết áp theo thời gian là rất cần thiết. Bên cạnh đó, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) tập trung vào can thiệp điều trị OSA, mất ngủ và tăng huyết áp trên đối tượng bệnh nhân COMISA sẽ giúp làm sáng tỏ cơ chế nhân quả này.”
Góc nhìn chuyên gia: Bác sĩ Alexandre Rocha Abreu
Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thường xuyên tiếp xúc với COMISA. Tuy nhiên, dưới góc độ một nghiên cứu độc lập, đây là một công bố độc đáo cho thấy sự tương tác giữa mất ngủ và ngưng thở khi ngủ là một nguyên nhân gây tăng huyết áp không kiểm soát.
Việc chúng tôi có thể ngồi lại với bệnh nhân và trích dẫn nghiên cứu cho thấy rằng nếu họ mắc cả hai tình trạng này cùng nhau, khả năng gặp các vấn đề về huyết áp có xu hướng lớn hơn nhiều sẽ mang lại nhiều thông tin hữu ích. Điều này sẽ giúp bệnh nhân có cái nhìn rộng hơn về ngưng thở khi ngủ là gì và nó có thể liên quan như thế nào đến các khía cạnh sức khỏe khác của họ.
Nghiên cứu này có sức ảnh hưởng lớn, vì nó làm nổi bật COMISA như một yếu tố nguy cơ mạnh mẽ, hy vọng sẽ giúp nâng cao nhận thức của bệnh nhân và bác sĩ về phổ tác động rộng lớn của việc các bệnh lý tương tác với rối loạn giấc ngủ như thế nào.
Các bác sĩ lâm sàng có thể cải thiện việc chăm sóc bằng cách không chỉ tập trung vào tối ưu hóa liệu pháp điều trị ngưng thở khi ngủ (liệu pháp áp lực đường thở dương, kích thích thần kinh hạ thiệt, dụng cụ đẩy hàm dưới hoặc thay đổi tư thế) mà còn bằng cách chú ý kỹ đến thói quen ngủ của bệnh nhân và cân nhắc liệu pháp thay đổi hành vi nhận thức cho những bệnh nhân đến đánh giá các rối loạn hô hấp khi ngủ.
Vì mất ngủ có liên quan chặt chẽ với rối loạn hô hấp khi ngủ, việc giải quyết vấn đề vệ sinh giấc ngủ, giờ đi ngủ hợp lý, giờ thức dậy hợp lý, tránh các thiết bị điện tử trước khi đi ngủ, v.v., là những bước rất quan trọng cần xem xét trong lần đánh giá ban đầu và các lần tái khám.
Trong các nghiên cứu tương lai, bước tiếp theo nên tập trung vào kết quả huyết áp khi cả hai tình trạng đều được điều trị. Liệu việc chỉ thay đổi hành vi nhận thức và điều trị rối loạn hô hấp khi ngủ có tương đương với việc thay đổi hành vi nhận thức cộng với điều trị rối loạn hô hấp khi ngủ và sử dụng thêm thuốc hỗ trợ giấc ngủ hay không?
Rất nhiều bệnh nhân đến phòng khám của chúng tôi để tìm kiếm một giải pháp khắc phục dễ dàng. Hiện nay, mọi người luôn muốn có một “viên thuốc thần kỳ”. Cho dù đó là vì mất ngủ, giảm cân, rối loạn hô hấp khi ngủ hay tăng huyết áp, mọi người đều muốn uống một loại thuốc và giải quyết tất cả mọi thứ.
Nhìn về phía trước, chúng ta nên đặt câu hỏi liệu thuốc có phải là giải pháp cho vấn đề này hay không, hay chúng ta nên tập trung tốt hơn vào việc tối ưu hóa tình trạng ngưng thở khi ngủ cùng với liệu pháp thay đổi hành vi nhận thức đồng thời. Liệu điều đó có mang lại lợi ích tương tự cho việc điều trị tăng huyết áp không kiểm soát liên quan đến COMISA hay không?
Ngoài ra, chúng ta nên tập trung vào việc khuyến khích bệnh nhân ngủ từ 7 giờ trở lên một cách thường xuyên vì thiếu ngủ góp phần gây ra một số cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng ngày nay.
Chúng ta cũng cần xóa bỏ định kiến về OSA. Bạn không nhất thiết phải béo phì mới bị ngưng thở khi ngủ. Trong quần thể bệnh nhân của chúng tôi, có một số lượng đáng kể những bệnh nhân có chỉ số BMI bình thường nhưng vẫn mắc OSA và sẽ có lợi từ việc tầm soát.
Một nhóm đối tượng khác mà chúng ta cần tập trung vào là phụ nữ vì họ có xu hướng đánh giá thấp các triệu chứng của mình, và bạn đời ngủ cùng ít có khả năng báo cáo về tình trạng ngáy hơn.
Một điều cũng rất quan trọng cần đề cập là bản thân chứng mất ngủ rất phổ biến trong dân số chung. Khoảng 35% người trưởng thành có thể có các triệu chứng mất ngủ thoáng qua. Hơn nữa, khoảng 10% dân số có thể bị mất ngủ mạn tính, đây là một con số đáng kể và gây ảnh hưởng đến gia đình và việc chăm sóc y tế.
Điều này gây tốn kém cho cả sức khỏe cộng đồng và việc sử dụng nguồn lực. Một báo cáo năm 2016 cho thấy chi tiêu y tế cho chứng mất ngủ tiêu tốn khoảng 5,1 tỷ đô la mỗi năm. Theo Wickwire và các cộng sự, trong một số trường hợp, hơn 100 tỷ đô la mỗi năm được chi trả gián tiếp do hiệu suất làm việc kém, tăng cường sử dụng dịch vụ y tế và tăng nguy cơ tai nạn ở những bệnh nhân mất ngủ.
Ngoài ra, tại Hoa Kỳ cũng có một lượng lớn bệnh nhân mắc OSA nhưng chưa được chẩn đoán đúng mức. Với tư cách là bác sĩ, việc chúng ta thảo luận về giấc ngủ với bệnh nhân thường xuyên là điều quan trọng, bất kể chuyên khoa nào, vì giấc ngủ đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe tổng thể và sự hạnh phúc.

Tài liệu tham khảo:
- Frisk MK, et al. Ann Am Thorac Soc. 2025; doi:10.1513/AnnalsATS.202501-080OC.
- Dieleman JL, et al. JAMA. 2016; doi:10.1001/jama.2016.16885.
- Wickwire EM, et al. Sleep Med Rev. 2016; doi:10.1016/j.smrv.2015.11.004.
- American Academy of Sleep Medicine. What is insomnia? (2020).
SleepFi
Địa chỉ: 114 đường số 32, tiểu khu 1, Phường An Lạc, TP.HCM
Hotline: 0916872112
